Tâm lý lo lắng, bồn chồn và căng thẳng kéo dài ở trẻ vị thành niên có thể là dấu hiệu của các bệnh lý rối loạn lo âu. Bài viết sau sẽ cung cấp những thông tin cần thiết để cha mẹ cùng con phát hiện và can thiệp điều trị từ sớm.

Lo âu, muộn phiền là một yếu tổ thường thấy đặc biệt ở trẻ vị thành niên. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa tình trạng lo lắng thông thường và lo âu bệnh lý. Khi hiểu rõ được điều này, phụ huynh có thể giúp con kiềm chế các triệu chứng và phát triển ổn định. Bài viết này sẽ cung cấp một số kiến thức cơ bản giúp phụ huynh nhận diện được rối loạn lo âu ở con và những cách thức can thiệp, hỗ trợ hiệu quả.

Rối loạn lo âu - thực trạng và nguy cơ

Lo âu là một cảm giác mà ai cũng có thể trải qua. Với trẻ vị thành niên, những nỗi lo âu bình thường có thể kể đến là:

- Sợ bóng tối, các con côn trùng nhiều chân

- Nhút nhát trong môi trường mới

- Sợ dính thương tích hay tử vong

- Căng thẳng khi phải trình bày một vấn đề trước đám đông

- Căng thẳng khi phải hoàn thành bài tập, dự án lớn.

Những mối lo này vẫn là một phần bình thường của cuộc sống. Tuy nhiên, khi tình trạng này kéo dài với cường độ cao, gây ảnh hưởng đến hoạt động thường ngày và trẻ thể hiện sự sợ hãi quá mức so với hoàn cảnh xung quanh, thì có thể đó chính là rối loạn lo âu.

Rối loạn lo âu nếu không được can thiệp kịp thời có thể dẫn đến trầm cảm, hành vi tự tử, nghiện rượu và ma túy, gặp khó khăn trong học tập và cuộc sống.

Theo Tổ chức y tế thế giới ghi nhận, có 4% trẻ trong độ tuổi 10 - 14 và 5% trẻ từ 15-19 đã trải qua rối loạn lo âu. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy rối loạn lo âu xuất hiện ở khoảng 3% số trẻ 6 tuổi và khoảng 5% số nam thiếu niên và 10% nữ thiếu niên. 

Các loại hình rối loạn lo âu

Rối loạn lo âu thường khá khó để nhận biết vì người ta dễ nhầm tưởng những triệu chứng của chúng chỉ là cảm xúc lo lắng thông thường. Bên cạnh đó, dù đều có chung triệu chứng là lo lắng, rối loạn lo âu thực chất lại có nhiều loại hình, với những đặc tính và triệu chứng, cách điều trị riêng. 

Trong bài viết này, dựa trên Sổ tay chẩn đoán và thống kê các loại rối loạn tâm thần DSM-5, chúng tôi sẽ trang bị cho phụ huynh hiểu biết cơ bản về các nhóm rối loạn lo âu thường gặp ở trẻ vị thành niên để có thể cho con đi thăm khám kịp thời. 

Xin lưu ý, mặc dù dựa trên tài liệu uy tín, bài viết chỉ có giá trị tham khảo để phụ huynh cân nhắc đưa con đi khám. Mọi chẩn đoán chính xác, có thẩm quyền trong lĩnh vực tâm lý chỉ có thể được đưa ra từ phía chuyên gia y tế. Chúng tôi không khuyến khích tự chẩn đoán tại nhà. 

Các rối loạn lo âu có thể xảy ra ở trẻ em và trẻ vị thành niên bao gồm: 

1. Ám ảnh sợ khoảng trống (Agoraphobia)

Rối loạn này là việc sợ hãi và lo âu vô cớ rằng mình sẽ bị rơi vào không gian mà mình không trốn thoát được. Trẻ mắc chứng rối loạn này sẽ có biểu hiện bị lo sợ nơi đông người. Điều này khiến trẻ bỏ lỡ nhiều cơ hội trong cuộc sống, khiến trẻ không dám tham gia các hoạt động thông thường. Trường hợp nặng, bệnh nhân có thể còn không dám ra đường.

Theo DSM-5, nếu trẻ có từ 2 triệu chứng sau trong từ 6 tháng trở lên thì nên đi kiểm tra sức khỏe

  • Sợ hãi sử dụng phương tiện giao thông công cộng
  • Sợ ở không gian ngoài trời
  • Sợ ở không gian kín
  • Sợ kẹt giữa đám đông
  • Sợ ở nhà một mình. 

2. Rối loạn lo âu lan tỏa (generalized anxiety disorder - GAD)

Trẻ bị rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) sẽ bị lo lắng quá mức, thường xảy ra khi liên quan đến một số hoạt động hay khu vực nào đó. Loại hình này thì không quá nguy hiểm, nhưng tình trạng lo âu kéo dài có thể cản trở tiềm năng phát triển của trẻ trong học tập và kết bạn. 

Triệu chứng của GAD là cảm giác lo lắng không tập trung, diễn ra hàng ngày trong khoảng thời gian từ 6 tháng trở lên, kèm với ít nhất một triệu chứng sau:

  • Bồn chồn căng thẳng hoặc bực dọc
  • Dễ bị mệt mỏi
  • Khó tập trung
  • Cáu gắt
  • Căng cơ
  • Rối loạn giấc ngủ

3. Rối loạn hoảng sợ (panic disorder)

Rối loạn hoảng sợ là việc trải qua các cơn hoảng loạn cường độ cao và kéo dài, diễn ra một cách bất ngờ, không báo trước. Cơn hoảng loạn có triệu chứng là nhịp tim tăng nhanh, hơi thở ngắn và cảm giác hoảng sợ. Ở một số người bệnh, triệu chứng cụ thể có thể bao gồm buồn nôn, chóng mặt, khóc lóc, la hét). 

Ngay khi có các biểu hiện trên, người bệnh nên được mang đi chẩn đoán và điều trị sớm để tránh các hành vi tránh né xã hội và tự tử.

4. Rối loạn lo âu chia ly (Separation Anxiety Disorder) 

Đây là cảm giác lo âu thường trực ở trẻ về việc bị tách khỏi khỏi gia đình, bạn bè, người thân thiết. Cảm giác buồn bã khi chia ly là bình thường, nhưng trẻ em mắc rối loạn sẽ khổ tâm trong thời gian dài và tìm mọi cách để tránh né những chia ly như vậy.

Triệu chứng rõ nhất của điều này ở trẻ vị thành niên:

- Nỗi sợ vô căn cứ rằng người thân thiết sẽ gặp phải tai nạn, rời xa mình mãi

- Cực kỳ miễn cưỡng khi phải rời xa người mình yêu thương

- Không dám nằm ngủ xa người thân của mình vì sợ điều gì đó sẽ xảy ra với họ

Các triệu chứng của rối loạn lo âu chia li còn tác động lên cơ thể, gây cảm giác đau bụng, đau đầu, tiêu chảy theo từng đợt căng thẳng. 

Đánh giá lâm sàng rối loạn này phải dựa vào tiền sử bệnh lý riêng của mỗi người. Tuy nhiên, nếu các biểu hiện trên xuất hiện liên tục từ 4 tuần trở lên, gây ra tâm trạng khổ sở, giảm chức năng xã hội của trẻ, thì cần đi chẩn đoán và can thiệp. 

5. Rối loạn lo âu xã hội (Social Anxiety Disorder)

Thường được gọi là chứng sợ xã hội, rối loạn lo âu xã hội (SAD) bao gồm những cơn sợ hãi trước tình huống xã hội. Cơn lo âu thường xảy đến khi người bệnh nói trước đám đông hoặc các mối lo sợ chung khi giao tiếp xã hội. 

Người mắc rối loạn này thường lo ngại thái quá rằng người khác đang soi xét họ. Họ vì vậy thường quay ra tự trách móc mình và thường có các triệu chứng như: run rẩy, tim đập nhanh, đau bụng và sợ hãi. Các triệu chứng này thường khiến người bệnh tránh né các trường hợp trên.

6. Rối loạn lo sợ đặc thù (Specific Phobias)

Giống như cái tên, chứng rối loạn này thường là cơn lo sợ quá mức gắn với một vật thể bất kỳ cụ thể, ví dụ như máu, côn trùng, độ cao, sấm sét, vv. Khi người bệnh đối đầu với các đối tượng này, họ sẽ gặp các triệu chứng như chảy mồ hôi, khóc, run rẩy, tim đập nhanh, hơi thở gấp. 

Nếu các triệu chứng trên xuất hiện trên 6 tháng, gắn với một số tình trạng sau thì nên đến bác sĩ:

- Các đối tượng gây sợ hãi tức thì cho người bệnh

- Bệnh nhân lo sợ đến mức tránh né hoàn toàn các tình huống hay đối tượng đó

- Mối lo quá mức so với tình hình thực tế

Các hướng điều trị:

Nhìn chung, giống như với các rối loạn tâm lý, có ba hướng can thiệp để khắc phục các tình trạng này: Liệu pháp tâm lý, dùng thuốc và điều chỉnh hành vi. Để tìm ra hướng điều trị tốt nhất, hãy tìm đến chuyên gia tâm lý kinh nghiệm và chuyên môn cao. Với đội ngũ chuyên gia của mình, Merak cũng đang cung cấp dịch vụ khám và tham vấn tâm lý.

1. Liệu pháp tâm lý giúp người bệnh:

Giúp người mắc bệnh tự quản lý được tác động của rối loạn lên cảm xúc, hành vi và nhận thức qua việc trị liệu nhận thức hành vi, còn được gọi là CBT. CBT có hai cách làm chính: một là giúp người bệnh nhận định được các suy nghĩ tiêu cực và các lệch lạc nhận thức của mình gây nên cảm giác lo lắng; hai là cho người bệnh đối mặt với nỗi sợ dần dần, đồng thời áp dụng các kỹ thuật giải tỏa tâm lý giúp cơ thể bình tĩnh lại.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng CBT có thể áp dụng cho các nhóm rối loạn như: rối loạn lo âu lan tỏa, lo âu xã hội, và lo âu đặc thù.

2. Thuốc:

Bên cạnh đó một số loại thuốc có thể kể đến như:

  • Thuốc chống trầm cảm: Các loại thuốc ức chế hấp thụ serotonin chọn lọc (SSRI) hoặc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI) có tác dụng thay đổi một số dẫn truyền thân kinh trong não khiến giảm nhẹ triệu chứng về lâu dài. 
  • Thuốc Benzodiazepines: thường dùng để ngăn các biểu hiện cấp tính 
  • Thuốc Beta-blocker: đây là nhóm thuốc ngăn adrenaline ảnh hưởng đến nhịp tim và giúp thư giãn mạch máu, thường dùng để điều trị cao huyết áp. Mặc dù thuốc không được FDA phê chuẩn để đặc trị rối loạn lo âu, nhưng lại có tác dụng giúp người lo âu giảm nhẹ các triệu chứng cơ thể gây ra do lo âu trong ngắn hạn.

Việc quyết định liều dùng phù hợp phải thông qua bác sĩ và chuyên gia tâm lý có kinh nghiệm. 

3. Điều chỉnh hành vi từ gia đình, trường học:

Thay đổi thói quen sinh hoạt như giảm lượng caffein, ăn ngủ đủ và tập thể thao cũng sẽ giúp giảm thiểu các triệu chứng lo âu thể nhẹ. Các biện pháp như hít thở sâu, yoga và giãn cơ cũng sẽ phần nào giải tỏa cảm giác lo âu

Nguồn tham khảo:

Merak sử dụng những nguồn nghiên cứu được bình duyệt để viết nên các bài viết của mình để đảm bảo tính chính xác của thông tin

  1. Merikangas KR, He JP, Brody D, et al: Prevalence and treatment of mental disorders among US children in the 2001–2004 NHANES. Pediatrics 125(1):75-81, 2010. doi: 10.1542/peds.2008-2598
  2. Cummings CM, Caporino NE, Kendall PC: Comorbidity of anxiety and depression in children and adolescents: 20 years after. Psychol Bull 140(3):816-845, 2014. doi: 10.1037/a0034733